Quý Hòa

 
Hải Vân Thứ Tư | 14/03/2018 08:41

Xác thực điều khoản về lao động với Việt Nam trong CTTPP

CPTTP đưa mối liên hệ giữa thực hiện Tuyên bố 1998 của ILO với các điều kiện thương mại, gồm cả biện pháp trừng phạt.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được kỳ vọng sẽ mang lại những lợi ích kinh tế cùng động lực cải cách, nhằm tạo dựng một nền kinh tế cạnh tranh cho Việt Nam.

Nhưng đi kèm với nó, các thành viên nội khối cũng nhấn mạnh đến các quy định về quyền lao động, để đảm bảo rằng tự do thương mại sẽ đóng góp vào phát triển bền vững, đồng thời giúp người lao động và doanh nghiệp cùng được hưởng lợi ích kinh tế một cách công bằng.

Trước đó, điều khoản về lao động đối với Việt Nam, một trong những nội dung chính trong vòng đàm phán cuối cùng trước CPTPP được ký kết bởi 11 nước vào ngày 8.3, tại Chi Lê.

Trao đổi với báo chí một ngày sau khi CPTPP được ký, ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại đa biên, Bộ Công thương, cho biết, Việt Nam đã đạt được thỏa thuận mới về lao động, công đoàn theo hướng linh hoạt hơn, chủ động biện pháp cũng như lộ trình để thực thi những nghĩa vụ quốc tế, đặc biệt là những quy định của ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế) liên quan đến lao động và công đoàn.

Ông Thái, người tham gia hầu hết đoàn đàm phán các FTA quan trọng của Việt Nam, nói rằng, các nước đã chấp nhận đề xuất này của Việt Nam, bởi các nước tham gia CPTPP rất tin tưởng vào quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam cũng đã chứng minh về những cải cách trong lĩnh vực lao động thời gian qua.

“Các nước đã quyết định dành cho việt Nam sự linh hoạt cần thiết, chủ động tiến hành điều chỉnh những quy định và thiết chế của mình để hội nhập từng bước với khu vực và thế giới”, ông Lương Hoàng Thái khẳng định.

Thế nhưng, nói như ông Chang-Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam, trong một thông báo phát đi chiều 13.3, bởi chính tổ chức này, thì Chương lao động của CPTTP dựa trên Tuyên bố 1998 của ILO đã đưa ra mối liên hệ giữa việc thực hiện Tuyên bố 1998 của ILO với các điều kiện thương mại trong một khuôn khổ thời gian nhất định, bao gồm các biện pháp trừng phạt có thể áp dụng.

“Việt Nam nên sử dụng điều này như một cơ hội để hiện đại hoá pháp luật lao động và hệ thống quan hệ lao động trong khung thời gian đã định”, Giám đốc ILO Việt Nam đưa khuyến cáo.

Thế giới đã đạt được đồng thuận về các quyền cơ bản cần được tất cả các quốc gia tôn trọng, không kể trình độ phát triển kinh tế. Sự đồng thuận này được quy định rõ trong Tuyên bố của ILO năm 1998 về Các Nguyên tắc và Quyền cơ bản trong Lao động. Chương liên quan đến lao động của CTTPP và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đều nhằm thực thi các quyền này.

Giám đốc ILO Việt Nam cũng cho biết, các FTA thế hệ mới, như CTTPP hay EVFTA yêu cầu tất cả các nước tham gia phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO trong pháp luật, thể chế và thông lệ. Các quyền này được quy định trong 8 công ước cơ bản của ILO, với 4 nền tảng cụ thể và tất cả các thành viên ILO, bao gồm Việt Nam, đều phải tôn trọng các quyền này.

Theo đó, một là tự do liên kết và công nhận hiệu quả quyền thương lượng tập thể (được quy định trong Công ước ILO số 87 và 98). Hai là loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (Công ước ILO số 29 và 105). Ba là xoá bỏ lao động trẻ em (Công ước ILO số 138 và 182). Bốn là xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp (Công ước ILO số 100 và 111). Tất cả các quốc gia thành viên của ILO,.

Việt Nam trở thành thành viên của ILO từ năm 1992, nhưng vẫn chưa phê chuẩn ba công ước cơ bản (Công ước số 87 về tự do liên kết, Công ước số 98 về quyền thương lượng tập thể và Công ước số 105 về xoá bỏ lao động cưỡng bức), ông Chang-Hee Lee chỉ rõ.

Việt Nam đã công nhận nghĩa vụ này và thực hiện các bước để đáp ứng yêu cầu của CPTPP thông qua quá trình cải cách pháp luật lao động và thể chế hiện đang diễn ra. Tuy nhiên, ông ông Chang-Hee Lee cho rằng vẫn còn đó một số điểm yếu trong pháp luật lao động và các thể chế liên quan đến quan hệ lao động, đó là việc đã có hơn 6.000 cuộc đình công tự phát kể từ giữa những năm 1990.

Theo người đứng đầu ILO Việt Nam, không hiếm trường hợp lãnh đạo công đoàn cơ sở lại là quản lý cấp cao của doanh nghiệp tại Việt Nam, điều không thể chấp nhận được tại hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới ngày nay. Quyền công đoàn là quyền của người lao động và công đoàn là tổ chức của người lao động, không bị giới sử dụng lao động can thiệp.

Dẫn kinh nghiệm mà các nước có nền kinh tế thị trường cho thấy, ông Chang-Hee Lee khẳng định, bằng cách truyền tiếng nói của người lao động thông qua thương lượng tập thể và đối thoại xã hội, công đoàn và hệ thống quan hệ lao động đóng góp vào ổn định chính trị và xã hội, đồng thời thúc đẩy cho thịnh vượng chung.

Ông Chang-Hee Lee tin rằng việc sửa đổi Bộ Luật Lao động và đổi mới hệ thống quan hệ lao động phù hợp với Tuyên bố 1998 của ILO và bối cảnh mới của Việt Nam chắc chắn sẽ giúp ích cho vấn đề này.

Người đứng đầu ILO không quên nhắc Việt Nam cần tiến tới phê chuẩn ba công ước cơ bản còn lại, bao gồm Công ước số 87, 98 và 105. Việt Nam cũng đã cam kết thực hiện điều này thông qua chương phát triển bền vững của EU-Việt Nam FTA.

Tới đây, theo ông Chang-Hee Lê, ILO sẽ tăng cường nỗ lực hỗ trợ cải cách pháp luật lao động và quan hệ lao động, để Việt Nam thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về lao động của CPTPP và EU-Việt Nam FTA, đồng thời xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống quan hệ lao động, phục vụ nhu cầu của người lao động, doanh nghiệp và xã hội.